Kinh Bách Dụ - Chia Gia Tài
Hòa Thượng Thích Thiện Huệ

Có một vị Sát lợi ở Ma la quốc lâm trọng bệnh, biết không sống nổi nên dặn hai người con "cha mất rồi hai con phải chia tài sản cho đồng đều". Sau khi người cha chết, hai anh em chia tài sản, nhưng cả hai không biết chia sao cho đều, bấy giờ có một ông lão bầy "để ta dậy cho  hai chú cách chia rất đồng đều, bất cứ món vật nào cũng phá ra chia đôi". Phá như thế nào? Quần áo thì cắt làm đôi, vật dụng thì đập bể làm hai, tiền cũng phá ra thành hai, tất cả đồ đạc không còn một thứ nguyên lành. Cách thức chia như vầy ai nghe cũng cười.

Như ngoại đạo thiên tu phân biệt luận trong luận môn. Luận môn có 4 loại. Gồm có quyết định đáp luận môn, dụ như ai cũng phải chết là quyết định đáp luận môn. Người chết tất có sinh, điều này nên phân biệt đáp, người sạch ái sẽ vô sinh, kẻ còn ái tất hữu sinh, đó gọi là phân biệt đáp luận môn. Nếu có người hỏi, nhân (người) là tối thắng? Nên hỏi ngược lại, Bạn hỏi (đối với) tam ác đạo? hay (đối với) chư thiên, nếu hỏi tam ác đạo, nhân quả thật tối thắng, nếu hỏi chư thiên, tất nhân không bằng được, những nghĩa như vậy gọi là phản vấn đáp luận môn. Nếu hỏi 14 thứ khó, như hỏi chúng sinh và thế giới là vô biên, hữu biên, hữu thủy chung hay vô thủy chung, các nghĩa như vậy là trí đáp luận môn. Ngoại đạo ngu si tự cho là trí huệ, phá bốn luận này, lập một phân biệt luận, như ngu nhân phân tài vật, phá đồ vật và tiền làm hai.

Lời Bình : Câu chuyện này có hai vấn đề chính, đó là "chia gia tài" và cách thức chia cũng như nhận theo tinh thần bẻ làm đôi.

A. Luận về vấn đề "bẻ làm đôi" gia tài được để lại :

Người cha để lại gia tài cho hai con, dụ cho đức Phật truyền pháp lại cho chư vị đại đệ tử, Như lai chỉ có một pháp truyền thừa, một pháp để lại, nhưng mỗi người nhận được mỗi pháp sai biệt, thành các quả cao thấp. Nhìn vào quả chứng thấy Phật pháp có sai biệt, nhìn vào bản thể vốn bình đẳng, đều là nhất thừa không tịch pháp, nhưng do căn tính dục mỗi người sai khác nên chỗ chứng hóa thành sai khác, có tứ quả và tam thừa, song kì thật chỉ có một thừa duy nhất, pháp duy nhất này bản thể bình đẳng đều là lý nhất thật. Như lai đem pháp nhất thật bình đẳng đó truyền thừa rất bình đẳng cho nhất thiết chúng sinh, như cơn mưa trải xuống vườn rừng đồng đều. Như lai khai thị cho chúng sinh biết bản thể vốn bình đẳng, chỉ do chúng sinh vọng thức có sai khác nên thấy pháp có sai khác, chúng sinh chẳng hề biết sai khác là do từ nơi mình, không phải từ nơi pháp, giống như "chu hành ngạn di".

Để chúng sinh thấy được thật pháp tức thấy được các pháp thật sự bình đẳng, sau khi được Như lai khai thị, chúng sinh cần hiểu rõ điều này, tức chân thật thấy bình đẳng, ba nghiệp đều khởi bình đẳng không có nhị biên nữa, gọi là ngộ nhập thật pháp, khi đó tâm chúng sinh thanh tịnh bình đẳng, pháp thanh tịnh bình đẳng, bản thể thanh tịnh bình đẳng, nhất thiết đều thanh tịnh bình đẳng, đó là tài sản Như lai bình đẳng ban bố "chia đều" cho chúng sinh, nào cần phải chờ đến Như lai nhập diệt mới chia được, mà tài sản "pháp bảo" đó được chia trong từng sát na, ngay nơi mọi cử chỉ động niệm của Như lai, đều là "bố thí ba la mật đa" cho mọi loài, một cách bất tận không ngừng này. Làm sao có sự bố thí nào khác trên thế gian có thể sánh nổi.

Sau khi Như lai nhập diệt, con cái của Như lai đã phân chia đồng đều tài sản vô tận của Như lai, đem đi khắp nơi, bố thí cho nhất thiết chúng sinh, tùy theo số lượng tài sản lãnh thọ được từ Như lai, như người lãnh được quả Tu đà hoàn cho đến A la hán, một mặt bố thí cho chúng sinh pháp chứng được của bản thân, một mặt gia sức khai thác gia tài pháp bảo đó, càng khai thác thêm được lợi ích, quả chứng càng cao, cho đến khi nào chẳng còn một pháp để chứng nữa thì thành tựu được toàn bộ gia tài của Như lai. Cho dù chứng quả cao thấp cũng thật sự đều là quả chính giác, trong mọi quả nếu tiến tu hơn nữa sẽ nhận ra được pháp bảo vô hạn đó nằm trong chỗ chứng hữu hạn của tự thân, và ngay khi đó chỗ chứng hữu hạn đó sẽ không còn nữa, mà thay vào đó là vô chứng, đồng với không có gì nằm ngoài chỗ chứng cả.

Đó là nghĩa chia gia tài bình đẳng, nguyên vẹn, không hề hao tổn hay diệt mất. Nếu theo nghĩa thế tục, chia gia tài là chia đều giá trị của sự vật hay chia theo khả năng của mỗi người, như người giỏi buôn bán thì giữ tiệm, người thích làm rẫy thì giữ vườn…mà không có nghĩa bình đẳng là cái gì cũng chia hai, như lão gìa ngu kia.

Lão gìa ngu đó chính là chúng ta, chúng ta thường có quan niệm bình đẳng của lão này, tức mọi sự đều phải chia đều, như cùng nuôi chó và thỏ, ban cho chúng thức ăn bình đẳng, thì ắt có con phải chết vì bình đẳng. Gỉa như con vật đó từ lúc sống cho đến chết, nếu nói được, sẽ than là bị đối xử bất bình đẳng. Chư Phật bình đẳng nên khế cơ thiết pháp độ hóa, để mọi căn tính đều khế ngộ cùng một lý, đo là bình đẳng lý.

Chúng ta như lão ngu, lấy pháp nhất thật bình đẳng của Như lai, bẻ làm hai, tức thành nhị biên, do vậy vọng hóa mọi sự thật bình đẳng bất động, như lão ngu bẻ tiền làm hai hủy mất giá trị của tiền. Nghe Phật pháp tựa như được chia gia tài, nhưng bị lão ngu bẻ làm hai nên phá hoại toàn bộ gia tài mới nhận được. Lão ngu dụ cho vô minh từ vô thủy, thói quen lâu đời thành tính gọi là lão, lại vô minh nên nói ngu. Nghe pháp thường phân biệt chấp cao thấp, thủ xả, lợi hại đủ thứ, nên pháp Phật vốn bình đẳng trở thành đối đãi, hư huyễn vô gía trị.

Dụ như thiểu số ni giới không hiểu Phật pháp bản thể bình đẳng, chỉ tại chúng ta như lão ngu tự tạo làm hai, nên nhìn pháp nhất thật thành hai, thấy có nam nữ sai biệt, nên đòi Như lai cho quyền bình đẳng, mà không hề biết rằng đối với Như lai, chúng sinh và chư Phật đều bình đẳng trên thật tính, nhưng bất đồng trong cảnh giới của nghiệp phân biệt nhị biên. Phật và chúng sinh bình đẳng, tất nhiên nam nữ bình đẳng, song do tự mình mà bình đẳng thành bất bình đẳng, điều này không phải Phật đặt ra sự phân biệt mà tự họ tạo nên bằng thức phân biệt. Do vô minh không biết thật tính vốn bình đẳng, nhưng vì ta mê muội mà thấy sai khác, đã không tự cải đổi cái "sai khác" đó thành "bình đẳng" bằng sự dậy dỗ của chư Phật. Tự tác phải tự thọ, nhưng tuy tự tác nghiệp quả, song lại đòi hỏi đức Phật phải giải quyết, tựa như ngài là người gây nên sự bất bình đẳng, quả là vừa đánh trống vừa ăn cướp, hủy báng chà đạp Phật pháp. Đức Phật là bậc y vương, muốn chữa khỏi bệnh nhị biên cho ta, để chúng ta thấy được sự thật là bình đẳng. Như kinh Hoa nghiêm dậy "tâm Phật chúng sinh, tam vô sai biệt".

Phải hiểu tự tính chân thân ta bất động thanh tịnh, tùy duyên biến hóa, thân ni hay tăng cũng đều là huyễn thân. Chân thân vốn đã thật bình đẳng, thì huyễn thân sao cũng được, chỉ tùy duyên mà tạo công đức và độ hóa chúng sinh, gọi đó là tùy duyên. Như nếu đòi huyễn thân được bình đẳng, tất chấp huyễn là thật và quên đi sự thật vốn sẵn đã bình đẳng, còn bình đẳng gì nữa. Họ không biết huyễn thân này là tùy duyên ứng hiện, không phải là chân thân thường trụ của họ, những người ngu này nhận "thân do duyên hợp" làm "thật thân", sinh biến kế phân biệt tranh chấp đòi bình đẳng, mê loạn mất chân tâm, gọi là phan duyên. Vừa khởi tâm phan duyên lập tức biến nhất thật thành nhị biên, nên tự đánh mất cái thật "chỉ có một", rồi lại đòi cho kì được cái "một", mà chẳng hay chính do sự đòi mà mất "một".

Phật pháp bất nhị, nay bẻ đôi Phật pháp thành hai phần tức phá hỏng cái gía trị bất nhị của thật pháp, như bẻ đồng tiền, cắt áo quần, đập đồ đạc làm hai tất phá hỏng công dụng của chúng.

B. Luận về vấn đề chia gia tài

Thế nhân thường để tài sản cho con cháu hiện kiếp, và rất sợ tài sản của ta lọt vào tay tha nhân, nhưng nào hay một khi ta chết đi, cho đến khi tái sinh, thì con cháu ta - những người thừa hưởng tài sản một đời lao nhọc đầy tác nghiệp của ta - lại trở thành người xa lạ với ta, và như thế chung cục tài sản của chính ta cũng nghiễm nhiên lọt vào tay người xa lạ. Do vậy người trí thường đem tài sản chia đều cho thân quyến 3 đời, bằng cách bố thí bình đẳng cho mọi chúng sinh, trong số những người có duyên nhận được sự bố thí ấy, tất nhiên có con cháu đời quá khứ, cho đến cả con cháu trong tương lai nữa, bởi lẽ do nhân duyên được cứu giúp mà những chúng sinh thọ nhận đó thác sinh làm con cháu thân bằng để trả ân người bố thí, hoặc gỉa chính bản thân người bố thí cũng có thể thác sinh vào nhà những người đã từng được mình bố thí, để được đền đáp bằng sự cưu mang tận tình đến trọn đời, như vậy hành bố thí là sự chia gia tài đồng đều cho quyến thuộc trong 3 đời, và tài sản này sẽ chẳng bao giờ mất được vào tay kẻ lạ. Đó là sự chia gia tài thù thắng nhất.

Lại như công dụng của Phật pháp phải hội đủ 2 mặt tự lợi lợi tha, nay bẻ đôi chỉ chọn lấy tự lợi, mà bỏ qua phần lợi tha, tất nhiên nửa đó không còn công dụng của chính pháp nữa, vì thế muốn được lợi lại hóa thành mất lợi, khác nào vì tự lợi mà vật nào cũng bẻ làm hai để được phần mình, chung cục những phần ấy đều trở thành thứ rác rưởi vô dụng.

Qua hai vấn đề trên ta có thể kết luận rằng, chia gia tài đồng đều nhất chính là pháp bố thí cho nhất thiết chúng sinh bình đẳng, vì hết thẩy chúng sinh đều là anh em với ta trong vô lượng đời. Hành pháp chia đó gia tài để lại sẽ là một tài sản ai cũng nhận được trọn vẹn mà không cần phân chia, đó là công đức, như chư Phật để lại gia sản giác ngộ cho tất cả chúng sinh, mà giác ngộ này ai nấy đều được viên mãn, dĩ nhiên không bằng cách chia mà chính bằng cách cho, nhờ cho muôn loài tất cả nên được tất cả. Tài sản công đức và cách chia của chư Phật khác hẳn với gia tài vô thường và cách chia của chúng sản. Một tài sản vô lậu không cùng tận và một tài sản hữu lậu nhất thời. Muốn được tài sản vô lậu thì cho ra, làm lợi cho cả thiên hạ, càng cho ra tài sản này càng thêm lớn, và không bao giờ mất. Muốn được thứ gia sản hữu lậu thì thu vào cất giữ cho tự thân, càng cất chứa sợ người khác được, càng không dám bố thí và cảm thấy không đủ, tài sản đó vì vậy trở thành một tài sản thiếu hụt và sẽ mất ngay vào khi lâm chung.

Tu học Phật pháp mà hành sử theo lão ngu sẽ không thành tựu được pháp bảo, mà ngược lại làm kẻ diệt pháp như lão ngu.

Trở Lại Đầu Trang