Kinh Bách Dụ - Đạp Miệng Trưởng Giả
Hòa Thượng Thích Thiện Huệ

Có một đám tùy tùng luôn muốn được lòng ông chủ trưởng gỉa giầu có, mỗi khi ông này nhổ đàm, lập tức có người lấy chân chà đàm, bấy giờ có gã ngu si suy nghĩ "hễ đàm vừa mới nhổ liền có kẻ nhanh chân chà, như vậy ta đợi trưởng gỉa sắp nhổ liền lấy chân chà trước, sẽ nhanh hơn mọi người". Và rồi ngay khi trưởng gia sắp nhổ, gã ngu liền đạp ngay miệng, khiến trưởng gỉa gẫy răng sưng môi. Trưởng gỉa nổi giận quát hỏi "cớ gì chú đạp vào miệng ta". Gã ngu đáp "mỗi lần trưởng gỉa nhổ đàm xuống đất, lập tức có kẻ chà đi, tôi muốn chà mà không kịp, vì vậy chờ lúc sắp nhổ, tôi đạp trước để được lòng ngài".

Phàm làm việc gì cũng phải chờ thời cơ thành thục, nếu không, cho dù có miễn cưỡng làm cũng không thành công, mà ngược lại còn phát sinh khổ não. Vì lý do này, thế nhân nên hiểu rõ khi nào mới đúng thời hay phi thời.

Lời Bình : Câu truyện này nhấn mạnh đến hai vấn đề chính, tức hành sự mà không biết thời tiết, và chỉ muốn được việc, mà không biết nhân duyên.

Đức Phật độ sinh luôn quán thời tiết nhân duyên. Ngài thường quán sát "hôm nay ai có nhân duyên đắc độ, căn cơ người ấy ra sao, dùng pháp gì độ, và thời tiết thì vào lúc nào ở đâu", mọi vấn đề liên quan đến người được độ Như lai thẩy đều hiểu rõ, đó gọi là đúng thời tiết nhân duyên, vì vậy Như lai độ hóa chúng sinh dễ dàng.

A.   Sự quan trọng của nhân duyên và mối liên quan với thời tiết

Dụ như một người muốn được vãng sinh đối với sự tư duy của chư Phật, "cần cho những người này thuần thục nhân duyên, một khi nhân duyên thuần thục thì đó là đúng thời tiết", vì vậy phải đặt để họ vào sự huân tập cho đủ nhân duyên, bằng nhiều phương cách, điển hình như phát bồ đề tâm, trì tụng kinh điển đại thừa, niệm Phật hay hành các thiện pháp…nhờ vào những nhân duyên này mạnh hay yếu, mà mức độ vãng sinh nhanh hay chậm, nếu chậm tức đồng với nhân duyên chưa thuần thục, cần phải tăng thượng duyên, hoặc gỉa đủ nhân duyên tối thiểu để được vãng sinh cũng cần phải có thời gian tôi luyện tịnh duyên, trừ khử uế duyên trong hoa sen, và chỉ khi nào nhân duyên tối thiểu để được ở tịnh cảnh hội đủ, bấy giờ hoa mới nở, hoa nở phải đúng thời tiết, thời tiết đó là nhân duyên đã chín mùi. Còn như người tinh cần tu tịnh pháp, nhân duyên thanh tịnh mau lẹ đầy đủ thì lập tức đúng thời đúng tiết sinh về cõi nước thanh tịnh, mà không cần phải mất thời gian chờ đợi trong hoa sen. Đây là điều Phật dậy "bất khả dĩ thiểu thiện căn công đức nhân duyên đắc sinh bỉ quốc". Thiểu thiện căn đồng với thiểu "nhân duyên vãng sinh", phàm "nhân duyên hội đủ" thì là đúng thời tiết. Những người vãng sinh về các cõi Phật, nương vào yếu tố nhân duyên thời tiết đều hội đủ, nên khi vãng sinh thấy Phật được nghe pháp liền chứng vô sinh pháp nhẫn. Nếu không đúng thời tiết nhân duyên, cho dẫu có nghe cũng không hiểu hay chỉ hiểu lờ mờ. Càng hiểu sâu càng tin, càng hiểu lờ mờ đức tin cũng theo đó lơ mơ.

Do đây, tuy đức Phật từ bi không cần cầu cũng đã thị hiện thế gian cứu khổ chúng sinh, song hẳn nhiên phải cần đến một điều kiện, đó là nhân duyên đắc độ tức thứ nhân duyên đủ để chúng sinh nhận ra "họa hoạn cần tránh và công đức phải cầu", nếu không cho dù chư Phật thường xuyên cho ta nhân duyên "cứu", nhưng chúng ta không đủ nhân duyên để tiếp nhận "nhân cứu" đó, nên không thể được cứu. Dụ như chư Phật thường dậy ta thâm tín nhân quả, trông quả mà gieo nhân, nhân thiện tất được quả thiện, nhân ác tất chịu quả ác, đó là pháp cứu ta và chúng sinh tận trong trứng nước, nhưng vì không hội đủ nhân duyên với chư Phật và pháp cứu, nên ta không đón nhận, đợi đến khi lãnh khổ quả mới ngày đêm cầu cứu, bấy giờ được xoa dịu chút đỉnh quả khổ, thì cảm kích vô cùng, cho đó là người cứu và pháp cứu. Nhưng kì thật bất luận pháp cứu hay người cứu nào trong trường hợp trên cũng chỉ là xoa dịu quả khổ, mà không cứu tận gốc cái quả khổ như chư Phật thường cứu. Song ta và chúng sinh chỉ có chút nhân duyên thiện căn trí huệ nên không nhận ra tâm từ bi thường xuyên cứu độ sâu xa của chư Phật, mà chỉ nhận được sự cứu hiện tại có công năng nhất thời. Nếu đủ "đại sự nhân duyên" tức nhân duyên viên mãn (phát và hành bồ đề tâm nguyện), lãnh nhận được pháp cứu tận gốc ngay từ nhân của chư Phật, thì đâu cần đến sự cầu cứu cũng như sự cứu nhất thời xoa dịu khổ đau, vì mọi nỗi khổ của sinh tử luân hồi đều đã bị diệt ngay trong trứng nước.

Như vậy chúng ta nhận ra rằng, mọi điều kiện để được cứu là đòi hỏi ở nhân duyên của ta, làm sao cho thời tiết thoát khổ nẩy sinh, mà không phải là  sự đòi hỏi gây khó cho chúng sinh từ chư Phật.

Lại như khuyên một người trẻ không nên phí sức vào các việc rong chơi đêm ngày, hưởng thụ vật chất, mà nên dùng thời gian và sức khỏe đó vào việc tu tập, người trẻ tuổi sẽ không màng bận tâm. Đến khi kiệt sức lâm bệnh bất trị, không cần ai khuyên, người này cũng lo niệm Phật tụng kinh, bỏ hết mọi sự ăn chơi, chẳng thiết gì ngoài cầu cho hết bịnh. Vậy mới biết bệnh khổ đôi khi cũng là trợ duyên tu hành, bệnh bấy giờ là phúc khí. Do vậy không đúng thời tiết nhân duyên có khuyên bảo để cứu, thì sự cứu cũng bị khước từ, một khi thời tiết nhân duyên đúng thời thì tự lo cứu và tiếp thu pháp cứu.

Ngay đến việc nghe pháp, lãnh hội sâu hay cạn cũng tùy thuộc vào nhân duyên thời tiết. Đối với chư Phật, các cứu pháp bình đẳng, vốn không cao thấp, ai tiếp nhận được đúng thật nghĩa thì đều đạt đến cùng một kết quả, thế nhưng chúng sinh nghe pháp chỗ ngộ không đồng, chung quy cũng do nơi nhân duyên nhiều hay ít, hoặc thời tiết đúng hay sai.

B. Họa hại của sự thiếu hiểu biết về nhân duyên.

Gã ngu trong câu chuyện vì vô minh, chỉ muốn thực hiện được ý muốn mà không nắm bắt đúng thời tiết nhân duyên, nên cưỡng làm, vì vậy hậu quả ngược lại. Gã muốn được lòng trưởng gỉa, nhưng chỉ biết học theo đám hầu cận tranh nhau lấy chân chà đàm, song không biết vì sao, khi nào chà, và chà ở đâu, do vậy mà thành sai lầm.

Cưỡng làm tức tạo tác hoàn toàn không đúng thời tiết nhân duyên, như "bạt miêu trợ trưởng" (kéo mạ lên cao cho mau lớn), do nơi tham tâm muốn được như ý, sử dụng tham tâm tư duy và hành động gạt bỏ nhân quả và thời cùng duyên, thiếu các yếu tố trên, kết quả luôn bất như ý. Những kẻ này "ư tâm hữu sự", nên hay cưỡng tác, và "ư sự hữu tâm" luôn sinh tâm phan duyên. Hành sự đúng thời duyên là tùy duyên, vì không sinh tâm cưỡng, mà chỉ thuận theo duyên, nên nói là "ư tâm vô sự", các nhân duyên đến đi cũng chẳng thấy thành bại, đắc thất, sinh diệt,  nên nói là "ư sự vô tâm". Đó là tâm bất động đại định, do "ư tâm vô sự" nên nội bất động loạn, lại "ư sự vô tâm" nên ngoại ly chư tướng.

Đức Phật chế giới cũng đúng thời duyên, không đúng không chế. Như đức Phật dậy ngài Ưu ba ly, "chỉ vá khi nào áo rách", nên khi nào có sự kiện phát sinh ngài mới nhân đó chế giới, để chư tăng hiểu rõ tính nhân quả của giới điều đó. Tựa như đàm có nhổ xuống đất mới chà lên được, nếu chưa nhổ thì không thể chà sát đi được.

Như lai độ sinh cũng đặt nền tảng trên thời duyên. Đúng thời duyên thì độ được, không đúng tất không độ được.

Gã ngu và đám tùy tùng luôn muốn lấy lòng trưởng gỉa, tựa như hàng đồ chúng phổ thông thờ kính đức Phật, muốn được chư Phật thương tưởng, nhưng lại chỉ biết dùng đến ngũ dục là thứ chư Phật khạc nhổ, dâng cúng lên đức Phật, hành động này khác nào dùng đờm dãi chét Phật, một hình thức đạp miệng trưởng gỉa của gã ngu. Thay vì chà sát sạch những thứ đàm dãi ngũ dục. Phải biết cúng dường Phật bằng 2 thứ, đó là trang nghiêm bằng tràng phan bảo cái, các thứ hương báu, và hoa thiện pháp tỏa khắp mười phương, tức cả vật chất lẫn tinh thần.

Nay gã ngu do chỉ biết lấy lòng trưởng gỉa, theo đám đông là chà xát đàm của ông này nhổ ra, nhưng tranh không lại nhiều người, nên khởi mưu tính đưa đến kết quả thay vì tỏ kính trọng lại thành hành vi chà đạp trưởng gỉa thô bạo. Đó là muốn gieo nhân duyên được lòng, nhưng do ngu si tạo thành nhân duyên mất lòng.

Phật giáo đồ cũng vậy, chỉ biết cung kính thờ Phật để được lòng Như lai, theo cách của đám đông quanh ta, ai làm sao ta làm vậy, giống như gã ngu chỉ bắt chước đồng bọn. Một khi nơi tâm đã có sự, tức chủ đích rồi, thì từ chủ đích này sinh tư duy, như gã ngu có chủ đích chà đàm, nên sinh tư duy "làm sao chà đàm". Người thờ Phật cũng vậy muốn được lòng Phật, nên khởi tư duy, nếu ta dâng cúng những phẩm vật tốt đẹp (theo ý ta thuộc về ngũ dục) lên ngài, hẳn ngài sẽ hài lòng và cho lại ta những thứ nhiều hơn như vậy. Họ không hiểu rằng đức bổn sư của họ đã từ bao kiếp xả bỏ hết mọi dục lạc, thậm chí đến cả thân mạng cho nhất thiết chúng sinh, để đắc quả bồ đề thanh tịnh an lạc, Như lai coi dục lạc như đàm dãi khạc ra vậy. Nay lại đem đàm dãi cung phụng Phật, thì thật là muốn được Phật thương trở lại làm nhơ Phật.

Khác với gã ngu chà đàm, đa số người vô trí thờ Phật chỉ mong Phật khạc đàm cho ta nhận, nào hay Như lai khạc sạch những thứ thế giới mong nhận đó mới thành đạo quả. Những kẻ không thờ phụng Như lai vì quả đức thanh tịnh an lạc, dùng sự tu tập thanh tịnh là phẩm vật dâng cúng Như lai để cầu được thanh tịnh giải thoát, mà chỉ thờ Phật theo tinh thần cung phụng Như lai bằng dục để đổi lấy quả dục, Khác nào chà đạp bôi lọ lên quả đức thanh tịnh nơi thân của Như lai. Họ những tưởng là họ thương Phật, nhưng kì thật "thương Phật" để được Phật thưởng quả ngũ dục, nên họ thương họ mà không hề thương Phật. Nếu quả thật sự thương Phật, họ hẳn nhiên tuyệt đối làm vui lòng Phật, đó là phát tâm cứu độ nhất thiết chúng sinh, không tiếc tài sản và thân mạng. Người trí thờ kính chư Phật để theo chư Phật xả bỏ tất cả cho chúng sinh. Người vô trí trái lại thờ kính chư Phật để tài sản và thân mạng được bền lâu vừa không mất vừa luôn tăng trưởng. Càng thờ phụng như thế càng làm hoen ố chư Phật và giáo pháp của ngài. Âu cũng do vì không thấu triệt nhân quả và cách gieo duyên được quả.

Hoặc những người tu hành, chỉ muợn Phật pháp để nhá cho thiên hạ vì Phật pháp mà cúng dường ta. Tự thân chẳng khi nào dùng Phật pháp ban bố cho thiên hạ các thắng duyên chưa từng có nơi Phật pháp. Người này chỉ dùng Phật pháp vào việc thu lợi, mà không bao giờ đáp lại cho những đồ chúng đã cung dưỡng mình bất kì một lời dậy nào thiết thật lợi lạc, có dậy cũng chỉ đem chính pháp diễn dịch thành những điều có lợi cho ta, vô hình chung biến chính pháp thành tà pháp, để thành tựu tà mạng do tà kiến chỉ bầy. Khác nào bôi bẩn chà đạp lên giáo pháp thanh tịnh của chư Phật.

Những kẻ thờ Phật và học Phật theo lối thiếu hiểu biết "pháp nhân duyên" này, thay vì làm Phật hài lòng, ngược lại khiến Phật pháp suy vi. Không khác gì gã ngu "đạp miệng trưởng gỉả".

Trở Lại Đầu Trang