Huệ Năng Thiền Pháp
Hòa Thượng Thích Thiện Huệ

Ngài họ Lư người Nam hải tân hưng, sinh năm mậu tuất đời Đường Trinh quán năm thứ 12. Cha làm quan, bị lưu đày về Lĩnh nam, mất cha từ tuổi còn thơ, nhà nghèo nên không có tiền ăn học, lớn lên bán củi nuôi mẹ.

Một hôm nhân có người mua củi, bảo gánh về nhà, sau khi nhận tiền, vừa ra đến cổng, nghe trong nhà có tiếng tụng kinh, ngài vừa nghe là tâm tỏ ngộ, nên hỏi người nọ tụng kinh gì, người kia đáp là kinh Kim cương, ngài hỏi kinh này từ đâu có được, và làm thế nào trì tụng. Người kia đáp, khi tôi đến Đông thiền tự ở Hoàng mai huyện lễ Phật, được ngài Ngũ tổ truyền dậy tăng tục đều nên trì tụng kinh này, sẽ mau được kiến tính thành Phật. Ngài nghe xong quyết định tìm đến Đông thiền tự xuất gia, trải qua gần một tháng mới đến được huyện Hoàng mai tỉnh Hồ bắc, lễ bái Ngũ tổ. Tổ hỏi, chú từ đâu đến, đến cầu thứ gì? Ngài đáp, đệ tử từ Tân châu Lĩnh nam xa xôi đến đây lậy ngài, chỉ cầu làm Phật không cầu gì khác. Tổ nói, chú là Lĩnh nam dân man di làm sao thành Phật được. Ngài đáp, người tuy có nam bắc, Phật tính vốn vô nam bắc, man di thân và hoà thượng bất đồng, nhưng Phật tính không hề sai khác. Ngũ tổ không muốn thiên hạ để ý nên bảo ngài xuống bếp gĩa gạo làm công quả.

Thời gian sau Ngũ tổ bảo môn nhân làm kệ trình kiến giải, người nào thấy tính thì được truyền y bát làm lục tổ. Giáo thọ là Thần tú làm kệ.

Thân thị bồ đề thọ, tâm như minh kính đài
thời thời cần phất thức, vật sử nhạ trần ai
(thân như cây bồ đề, tâm như đài gương sáng
thường chuyên cần lau chùi, đừng để bám bụi trần)

Ngài làm kệ ngược lại.

Bồ đề bổn vô thọ, minh kính diệc phi đài
bổn lai vô nhất vật, hà xứ nhạ trần ai.
(bồ đề vốn không cây, gương sáng cũng chẳng đài
xưa nay không một vật, bụi bám ở nơi đâu).

Sau đó ngài được truyền y bát làm tổ thứ sáu của thiền tông đông độ. Hai bài kệ cho thấy tinh thần của hai vị Huệ năng và Thần tú, Huệ năng đốn ngộ và Thần tú tiệm ngộ. Sau khi Ngũ tổ thị tịch, Huệ năng hoằng pháp ở phương nam, Thần tú trụ trì chùa Ngọc tuyền ở Hồ bắc, nên phân thành hai phái nam Năng bắc Tú. Nam Năng còn gọi là Tổ sư thiền, bắc Tú là Như lai thiền.

Ngài là vị tổ ngộ đạo nhanh nhất, đắc y bát khi hãy còn là cư sĩ 24 tuổi, người độc nhất được truyền y bát mà mù chữ và chưa từng tu học đạo bao giờ,. Ngài được coi như vị khai sáng nên Tổ sư thiền, và các vị thiền sư sau này đều ảnh hưởng tư tưởng đốn ngộ, vô phương tiện của ngài. Khi ni sư Vô tận tạng hỏi nghĩa kinh Niết bàn, mới biết ngài không biết chữ, ni sư nói, ngài không biết chữ làm sao thành tổ? Ngài đáp chư Phật diệu lý phi quan văn tự (diệu lý của chư Phật dính gì đến chữ nghĩa). Với tinh thần này mà Tổ sư thiền bất lập văn tự, đã bất lập văn tự tất không truyền giáo theo kinh văn như thông thường, gọi đó là giáo ngoại biệt truyền. Khi Ấn tông hỏi ngài đại ý của Đông sơn pháp môn (giáo pháp của Ngũ tổ) ngài đáp, chỉ trọng kiến tính mà không bàn đến thiền định giải thoát. Bởi kiến tính là nhân, giải thoát là quả. Ngay lúc phú pháp cho Huệ năng, Ngũ tổ khai thị, không biết bản tâm học đạo vô ích, nếu biết được bản tâm, thấy được tự tính, đó là bậc trượng phu thầy của trời người . Do vậy mới biết pháp môn Đông sơn chú trọng trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật, nhờ đó mà Huệ năng trở thành lục tổ, nếu trọng nơi kiến thức quảng bác tất Thần Tú sẽ được y bát.

Chúng ta thử bàn luận về một lời dậy của ngài tiêu biểu cho lập trường đốn ngộ của Tào khê pháp môn.

Bất ngộ tức Phật thị chúng sinh , bất ngộ tức bất thức bản tâm, bản tâm vốn sẵn đủ ba thứ công đức là bát nhã đức, giải thoát đức và pháp thân đức, nay vong thất bản tâm đồng nghĩa vong thất tam đức, vì vậy phải chịu hậu quả đeo mang nhục thân đầy u mê và trói buộc, chịu luân hồi sinh tử gọi là chúng sinh.

Nhất niệm ngộ thời chúng sinh thị Phật , chỉ một niệm giác tất niệm niệm đều giác, giác chân tâm xưa nay đầy đủ tam đức, nên chuyển nhục thân thành pháp thân, trói buộc thành giải thoát, u mê thành trí huệ, gọi đó là Phật.

Cố tri vạn pháp tận tại tự tâm , như vậy đủ thấy, do mê tự tâm thành chúng sinh, do ngộ tự tâm thành Phật, nên biết nhất thiết pháp mê hay ngộ đều ở nơi tự tâm, mà không phải các pháp đó ngoài tâm, do tâm thế nào cảnh sinh thế ấy, nên cảnh do tâm sinh, cảm thọ cũng do tâm, tưởng hay hành cũng do tâm, vì vậy nói ngoài tâm không một pháp.

Hà bất tùng tự tâm trung đốn kiến chân như bản tính , vậy tại sao không từ ngay nơi vọng tâm này đốn kiến chân như bản tính? Đốn kiến tức trực chỉ không qua phương tiện, phương tiện pháp là pháp giải thoát đồng thời là pháp phược, nương nơi phương tiện thấy được bản tính, chấp vào phương tiện tất   từ mê thêm mê, như người chấp ngón tay làm trăng. Hướng ngoại tu hành tất cần phương tiện, nay lìa nhất thiết ngoại tướng quán sát nội tâm, quán sát này có hai phương diện, quán sát nội tâm và quán sát nội pháp. Nói ly tướng quán sát đương nhiên quán tự tâm bản tính nơi năng và sở, nơi năng là ngã, nơi sở là pháp để thấy ngã pháp tự tính đều không. Đừng hiểu lầm quán tự tâm là chỉ quán ngã mà thôi.

Chân như bản tính là chân tâm, là tất cánh không, là nhất thiết pháp bản lai tự tính không tịch. Khi đốn kiến chân như rồi tất tam đức nơi bản tâm tự hiển bầy.

Đó là pháp môn đốn ngộ của tổ sư thiền, mà ta thấy ngay cuộc đời của ngài Huệ năng là pháp này, mù chữ mà vẫn ngộ đạo, chứng tỏ đạo không ở văn tự như đa số người lầm tưởng, chưa từng học đạo theo văn kinh, mà chỉ nghe kinh liền đốn kiến bản tính, nhận ra tự tính xưa nay có mọi đặc tính, như ngài xưng thán khi liễu ngộ.

Nào dè tự tính vốn tự thanh tịnh.
Nào dè tự tính vốn không sinh diệt.
Nào dè tự tính vốn đã sẵn đủ (tam đức).
Nào dè tự tính vốn không động loạn.
Nào dè tự tính năng sinh vạn pháp.

Nam mô Đông độ lục tổ Huệ năng Đại giám thiền sư tác đại chứng minh.

Côn minh 17/9/07

Trở Lại Đầu Trang