Phúc Hà Khả Cứu (Phúc Nào Cứu Cho Được)
Hòa Thượng Thích Thiện Huệ

Ba cõi, sáu đường đều từ vọng tâm sinh khởi, không vọng tâm thì không có tam giới lục đạo, ví như cảnh mộng toàn bộ do mộng tâm sinh, khi thức tỉnh, mộng tâm tan biến, cảnh mộng tự tan theo. Không thể duy trì mộng tâm mà riêng diệt mộng cảnh, cũng vậy ngã mất thì tam giới lục đạo mất theo, ngã còn thì luân hồi trong ba cõi sáu đường vẫn y nguyên tồn tại. Không thể vừa duy trì ngã vừa tiêu diệt luân hồi sinh tử, như Đạo gia tu thuật trường sinh, cố giữ xác thân diệt trừ cái chết, Thiền sư gọi những người này là con ma giữ xác, chung quy cũng chẳng có Đạo gia nào trường sinh bất tử. Bởi sinh tử chỉ là ngọn ngành của gốc ngã chấp. Do vậy những người niệm Phật chân chính nhất tâm bất loạn khi vãng sinh về cõi Phật bằng tâm quang thân thọ thì vọng ngã không còn, nên nói khi hoa nở thấy Phật ngộ pháp vô sinh.

Tóm lại ở cảnh giới của chư Phật chỉ có công đức, vĩnh viễn không còn các phúc họa nên gọi là an lạc độ. Do vậy cõi Phật còn gọi là Vô sinh độ, vì nơi đây không còn ngã để sinh hay tử như ở cõi trời, tất cả mọi chúng sinh vãng sinh cõi Phật đều ngộ vô sinh, nên đắc vô sinh thân thọ mạng vô cùng. Những chúng sinh còn ngã chấp không phát tâm bồ đề khi sinh về cõi Phật phải ở trong hoa sen tôi luyện cho đến khi ngã chấp nguội lạnh tiêu tan hoa mới nở, gặp được nhị vị Đại sỹ thuyết pháp an ủi sách tiến, liền phát bồ đề tâm, khi ấy mới chính thức vãng sinh trở thành Thánh chúng ngộ vô sinh của cõi Cực Lạc. Vì vậy Như Lai nhấn mạnh trong kinh Di Đà “bất khả dĩ thiểu thiện căn phúc đức nhân duyên đắc sinh bỉ quốc” không thể dùng nhân duyên thiện căn phúc đức ít ỏi mong sinh về cõi Phật ấy.

A. Vô sinh pháp nhẫn.

Bồ tát Long Thọ giải thích Vô sinh nhẫn trong Trí độ luận quyển 50 “tín thọ, thông đạt, vô ngại bất thối đối với thật tướng các pháp vốn vô sinh vô diệt gọi là vô sinh nhẫn” (ư vô sinh diệt chư pháp thật tướng trung, tín thọ thông đạt, vô ngại bất thối, thị danh vô sinh nhẫn). Tăng Triệu trong Chú Duy Ma kinh giảng “Pháp nhẫn là huệ tính, thấy các pháp vô sinh, tâm trí tịch diệt, kham thọ không thối chuyển gọi là vô sinh pháp nhẫn” (pháp nhẫn tức huệ tính nhĩ, kiến pháp vô sinh, tâm trí tịch diệt, kham thọ bất thối, cố danh vô sinh pháp nhẫn dã).

Tựu chung Vô sinh nhẫn là tính bất động do an trụ nơi thật tướng vô sinh diệt của các pháp. Từ nghĩa này đưa đến kết luận vô sinh nhẫn đồng với nhất tâm bất loạn. Bất luận dùng pháp quán tâm, trì chú hay niệm Phật đều có công năng khiến tâm bất loạn chứng vô sinh pháp nhẫn hay trong tịnh độ môn gọi là ngộ vô sinh.

Dĩ nhiên khi sử dụng ngã làm nền tảng tu quán tâm, trì chú hay niệm Phật không thể đem lại kết quả nhất tâm bất loạn hay chứng vô sinh nhẫn. Điều này thực dễ hiểu bởi bản tính tâm của ngã là vọng thức, thường phan duyên khởi vọng tưởng, tham sân si không ngừng động loạn nên gọi là tâm viên ý mã. Gỉa như cho dù có thể dùng ngã tu trì đến mức thức tâm vọng tưởng đều dừng lại, tất vọng tự trừ, vọng trừ thì ngã diệt như mộng tàn thì mộng ngã tiêu, chung cục cũng phải xả bỏ vọng ngã, song do vọng không cho phép tự diệt, nên chi khi tu tập muốn cho ngã đắc tất càng tu càng loạn động, bởi theo ngài Long Thọ nói “cho đến mảy may pháp cũng không đắc nói gì đến lớn gọi là vô sinh, đắc pháp vô sinh này không còn tác hay khởi các hành nghiệp gọi là đắc vô sinh pháp nhẫn. Bồ tát chứng đắc vô sinh pháp nhẫn gọi là A Bệ Bạt Trí” (nãi chí vi tế pháp bất khả đắc hà huống đại thị danh vô sinh. Đắc thử vô sinh pháp, bất tác bất khởi chư nghiệp hành thị danh đắc vô sinh pháp nhẫn. Đắc vô sinh pháp nhẫn bồ tát thị danh A bệ bạt trí. Trí độ luận 73). Không chứng một pháp, không tác không khởi các hành nghiệp là do không còn vọng ngã để chứng pháp hay khởi nghiệp gọi đó là vô sinh. Như vẫn còn ngã tất không thể đắc pháp vô sinh. Cảnh giới của thập địa đều vô sinh, huống hồ cõi Phật siêu thập địa, tất nhiên phải vô sinh. Vãng sinh cõi Phật là vãng sinh về cõi vô sinh, sự vãng sinh này vốn vô sinh đó mới thực là vãng sinh.

B. Phật danh đầy đủ tam đức.

Nhất thiết chư Phật đều hội đủ tam đức bao gồm Pháp thân công đức, Bát nhã công đức và Giải thoát công đức. Bát nhã tức trí huệ thượng cầu viên mãn của chư Phật còn gọi là Vô lượng quang. Giải thoát cho ta và nhất thiết chúng sinh thoát khỏi luân hồi sinh tử thành tựu pháp thân không còn thọ thân sinh tử gọi là Vô lượng thọ. Pháp thân là sự kết hợp giữa trí thượng cầu và bi hạ hóa, tức tâm quang thân thọ, biến khắp mọi nơi không đâu không phải pháp thân Phật, như Mã Tổ Đạo Nhất thiền sư hỏi “chỉ dùm tôi nơi nào không phải Phật?”. Do biến nhất thiết xứ đâu đâu cũng là pháp thân Phật nên Pháp thân chính là Vô lượng Phật. Như vậy tam đức bao gồm Pháp thân đức tức Vô Lượng Phật (A Di Đà Phật), Bát nhã đức tức Vô Lượng Quang Phật và Giải thoát đức chính là Vô Lượng Thọ Phật.

Tam đức biểu trưng Tam Phật. Tam Phật bất nhị chính là một Phật, vì vậy xưng hồng danh A Di Đà Phật bao quát Vô Lượng Phật và Vô lượng Quang Thọ công đức. Càng niệm Phật danh (không phải réo) tam đức càng tương ưng trong mỗi niệm, hiển bầy uy lực của quang khiến trí huệ thượng cầu phát sinh, oai lực của thọ khiến từ bi độ sinh tăng trưởng. Nhờ vậy siêu thập địa quát tam thừa. Ví bằng réo Phật thì bi trí vĩnh viễn vẫn khô héo như hằng bao kiếp truớc. Có niệm công đức Phật mới có thể ân triêm công đức ấy, nếu trong niệm “niệm Phật” thiếu vắng phần công đức tất Phật trong niệm đó chỉ là Phật không công đức, nên niệm lâu ngày mà công đức không sinh, chúng sinh không lợi lạc. Như Lai tuyên thuyết “nhất thiết chúng sinh giai hữu Phật tính” đã sẵn có Phật tính tất tự đầy đủ ba đức, nói cách khác trong tự tâm vố sẵn có Vô Lượng Phật, Vô Lượng Quang Phật và Vô lượng Thọ Phật. Nhờ vào pháp Xưng danh tán thán Phật để thúc đẩy Phật tính nương vào công đức chư Phật mà phát sinh, theo đúng lời dậy của Liên tông thập nhị tổ Triệt Ngộ “dùng tâm có Phật niệm Phật có sẵn trong tâm”.

C. Điều kiện vãng sinh trong pháp niệm Phật.

Kinh A Di Đà nhấn mạnh điều kiện ắt có và đủ để vãng sinh chính là niệm Phật đến “nhất tâm bất loạn”. Nhất tâm bất loạn đồng với tâm bất động. Tâm sở dĩ loạn là do bị vọng hoặc làm loạn, nên gọi là vọng tâm. Vọng tâm là gì? vọng tâm chính là ngã chấp. Ngã chấp thường niệm ngã nên tạo tác và phát sinh biết bao tác nghiệp thiện ác chiêu cảm nên các quả khổ lạc của tam giới lục đạo. Muốn xả bỏ tam giới lục đạo vãng sinh về cõi Phật, căn bản phải sửa đổi từ nhân, xả bỏ ngã chấp là chính nhân tạo thành luân hồi sinh tử và ba cõi sáu đường. Ngã chấp vô hình vô ảnh chỉ hiện ra nơi thường hằng niệm ngã, trừ tập khí niệm ngã này tất trừ được ngã chấp. Ngã chấp sinh “niệm ngã” che mất chân ngã tức chân như Phật tính, nay Như Lai dùng thiện xảo phương tiện dậy chúng sinh niệm Phật tức tu tính, niệm “Phật tính bản lai” hầu niệm “niệm Phật” này diệt trừ niệm ngã, khiến pháp thân Phật tính hiển bầy, (tất Vô lượng Phật hiển hiện) thay cho thân tâm do nghiệp chiêu cảm thành, như người tỉnh mộng, thật thân thay cho mộng thân, thật cảnh thay cho mộng cảnh. Do đó Liên tông Thập nhị tổ Triệt Ngộ nhấn mạnh “dùng tâm có Phật, niệm Phật có sẵn nơi tâm” đây chính là pháp tu tính kiêm tu thân, gọi nôm na là tu công đức thành Phật. Nhất thiết chúng sinh giai hữu Phật tính nên mọi chúng sinh đều có Phật tâm, dùng tâm này tức khởi dụng chân tâm niệm Phật sao cho tâm có Phật và Phật sẵn có trong tâm trở thành một, gọi là tức tâm tức Phật, hay tâm Phật bất nhị hoặc nhất tâm bất loạn, niệm Phật tam muội…Niệm Phật bằng chân tâm không bằng vọng tâm của ngã chấp tất nhất xưng siêu thập địa bởi Phật danh của nhất xưng có đủ tam đức bao quát tam thừa. Cần ghi nhớ khi niệm Phật đến mức bất loạn, tức tâm tức Phật thì tự tâm là Vô Lượng Phật bao quát Vô Lượng Quang và Vô Lượng Thọ Phật. Phật và tâm không hai, năng và sở bất nhị.

Song do trí huệ và đức tin có sâu cạn khác nhau nên cách lí giải và sự hành cũng khác biệt, vì vậy cõi Phật chia thành cửu phẩm. Người tín và huệ nông cạn do ngã chấp thì dựa vào cú niệm Phật, thấy ta là năng, Phật là sở nên chỉ niệm phần Phật ứng hiện bên ngoài (sở) mà không niệm đủ “vô lượng Phật” hiện khắp mười phương, từ nội tâm ra ngoại cảnh, từ ngoại cảnh vào nội tâm không đâu không có Phật, không đâu không phải Phật. Do tín và huệ căn nông cạn nên “niệm Phật cú” mất đi phần nghĩa tức pháp, vì vậy nên y nhân (Phật) mà không y pháp (thành Phật). Y Phật mà không thành Phật tất chẳng có chút công đức nào thuộc quang và thọ. Chung quy cũng do nơi y thức của vọng tâm phân biệt mà không y vào trí bất nhị, do vậy từ pháp niệm Phật liễu nghĩa hóa thành niệm Phật bất liễu nghĩa, từ Vô lượng Phật chẳng còn lấy một Phật nào.

Người có trí huệ và đức tin sâu rộng do hiểu rõ nhờ vào công đức bàng bạc trong Phật danh có thể giúp ta mở bầy Phật tính bản lai (vốn sẵn là Phật) qua pháp niệm Phật, nên khi niệm Phật thường quán năng niệm và sở niệm tính vốn không tịch, năng sở bất nhị nên trong một câu xưng danh Phật, niệm “vô lượng” Phật, nhất thiết sự vật từ tâm đến cảnh, từ Phật đến chúng sinh, từ hữu đến vô tình không gì không là Phật (tình dữ vô tình đồng viên chủng trí). Vô lượng đều là Phật, Phật là vô lượng. Niệm Phật như thế một niệm niệm Phật là niệm vô lượng Phật. Niệm Phật như vậy tất kiến tính (công) thành Phật, bình đẳng (đức) độ sinh. Niệm Phật nghĩa, niệm Phật trí, niệm Phật pháp, niệm Phật liễu nghĩa như thế mới thực là chính niệm, gọi đó là nhất xưng siêu thập địa.

F.Tu tri lục tự quát tam thừa.

Không những tam giới lục đạo đều do vọng tâm tạo thành thậm chí ba thừa, thập địa cũng do tâm sinh, chỉ khác ở chỗ tam giới lục đạo do tâm thiện ác lẫn lộn tạo thành, tam thừa thập địa do tâm thuần thiện phát sinh. Tâm sở dĩ có thiện ác là do bởi động loạn gọi tắt là tâm động. Tâm động loạn là còn vọng, vì vậy Như Lai dậy tam thừa hay thập địa đều là hóa thành chưa phải là bảo sở (kinh Pháp Hoa). Người tỉnh mộng đối với giấc mộng không còn thấy một vật (vô nhất vật) mà không hề chỉ có ác theo mộng tàn, còn thiện thì lưu lại, nếu vẫn thấy dư thiện hay ác của mộng đều chưa hoàn toàn tỉnh mộng, chỉ bao giờ thiện ác của mộng cảnh đều tan biến không còn dấu tích mới thật sự tỉnh thức. Như Tuệ Trung thượng sỹ miêu tả “mê trung tạo tác, giác hậu đô vô” khi mơ lắm nỗi, lúc tỉnh toàn không. Tâm của người tỉnh giác hoàn toàn là tâm không còn thiện ác động loạn, gọi là tâm bất động đó là Phật tính, chân tâm, như lời khai ngộ cho Huệ Minh của Lục tổ Huệ Năng “bất tư thiện, bất tư ác, chính dữ ma thời, na cá thị Minh thượng tọa bản lai diện mục” không còn tư duy thiện ác, ngay lúc ấy chính cái đó là chân diện mạo của ông.

Lục tự “Nam mô A Di Đà Phật” còn có nghĩa quy y Vô lượng Phật, hay quy y Quang Thọ Phật. Quy y ngoài nghĩa quay về nương tựa còn có nghĩa tôn kính phụng thờ, y giáo phụng hành. Quy y vô lượng Phật tức quy y tha Phật, tự Phật và hết thẩy Phật. Phật Phật bình đẳng không sai khác, cung kính tha Phật đồng với cung kính tự Phật, cung kính tự Phật đồng với cung kính tha Phật. Từ đó suy ra tự tha Phật bất nhị, Phật biến khắp 10 phương ba đời, nên ba đời 10 phương đều bình đẳng bất nhị. Bình đẳng tất vô phân biệt, vô phân biệt nên tâm bất động bất loạn. Tâm bất động loạn tức Phật. Tam thừa không ngoài một tâm bất động tùy duyên ứng hóa độ sinh “ung dĩ hà thân đắc độ gỉa tức hiện hà thân nhi vị thuyết pháp” đáng hiện thân nào độ thì hiện thân ấy độ, thành có ba thừa. Do vậy nói tam thừa nằm trọn trong sáu chữ Nam mô A Di Đà Phật (quy y Vô Lượng Phật).

G.Dụng tâm niệm Phật như thế nào là quy y Phật?

Niệm “nam mô A Di Đà Phật” có nghĩa quy y, y giáo, cung kính đức Phật A Di Đà. Niệm thế nào thì quy y tức nam mô Phật? Niệm Phật quán tưởng năng niệm sở niệm tính không tịch, nên không còn thấy ta và Phật, chỉ thấy tất cả đều là Phật bình đẳng bất động, không còn ngã và ngã sở, niệm như vậy tất vọng diệt huệ sinh, Phật Vô Lượng Quang ửng hiện. Niệm này phát khởi từ trí thượng cầu, kiến Phật tính, xả vọng ngã gọi là niệm “Nam mô (quy y) Vô Lượng Quang Phật”.

Niệm Phật hộ niệm cho người sắp lâm chung, chí thành niệm sao cho thần thức của người lâm chung nghe được hồng danh Phật khiến họ xả báo thân sinh Phật quốc. Hoặc gỉa phóng sinh niệm Phật, chí thành niệm cho vọng tình của súc sinh nghe được hồng danh Phật khiến chúng có nhân duyên với chư Phật trở lại thân người, tu hành giải thoát. Niệm Phật như thế phát sinh vì tâm từ bi hạ hóa lợi lạc hữu tình khiến chúng sinh được giải thoát sinh tử, nên Phật Vô Lượng Thọ ứng hiện, gọi niệm này là niệm “Nam mô (quy y) Vô lượng Thọ Phật”.

Thường xuyên niệm Phật bằng tâm bồ đề thượng cầu hạ hóa, tất trong một niệm xưng danh bao quát cả A Di Đà Phật lẫn Cực lạc quốc độ. Niệm Phật hạ hóa Cực Lạc hiển bầy, niệm Phật thượng cầu Phật A Di Đà hiển hiện. Niệm hướng khắp mười phương ba đời tất đâu đâu cũng vừa là Phật, vừa là cảnh Cực Lạc, niệm như vậy gọi là niệm “Nam mô (quy y) Vô Lượng Phật”.

Cần lưu ý : nếu chỉ niệm theo lối gọi tên Phật, tất niệm cho đến chết một chút quang cũng không hiện trong tâm, mong gì đến Vô lượng quang. Nếu niệm Phật phóng sinh hay hộ niệm chỉ lo trau giồi cho phúc báo ngũ dục của bản thân mà không vì sự cứu độ thì niệm đến muôn niên cũng chẳng thấy chút thọ nơi tâm huống là vô lượng thọ. Người niệm Phật có thể tự cứu xét sự dụng tâm của mình có chân chính không bằng các quan sát càng niệm Phật, quang thọ có càng phát uy lực hay không?

Tóm lại một niệm (nhất xưng) bao quát tam đức cùng vô lượng Phật, giúp tâm bồ đề viên mãn thành tựu Phật quả cùng cảnh giới tịnh độ độ sinh.

H.Kết luận

Nhất xưng siêu thập địa không còn chút nào ngạc nhiên nữa khi ta hiểu theo nghĩa “thật đức năng”. Điều cần biết là 6 chữ Nam mô A Di Đà Phật phổ quát tam thừa độ hóa chúng sinh, nếu niệm lục tự không có thừa nào trong đó thì lục tự đó vô công dụng. Tịnh độ hành gỉa cần lưu ý niệm Phật khác với réo Phật.

Côn Minh ngày 22/7/2011

Thích Thiện Huệ.

Trở Lại Đầu Trang